202020  20

Vai trò của crom đối với sức khỏe

Mãi tới thế kỷ 18, nguyên tố crôm mới được phát hiện ra. Kể từ đó người ta đã phát hiện nhiều điều thú vị về chất này như vai trò của crôm trong y học chữa bệnh và cả trong mỹ phẩm. Tuy nhiên, thiếu hay thừa crôm cũng gây ra những tác hại cho sức khỏe con người.

Nguyên tố crôm là một kim loại, có số hiệu nguyên tố là 24 trong Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, với khối lượng nguyên tử 52, cứng, mặt bóng, màu xám thép, không mùi, không vị, dễ rèn. Crôm có nhiều trong thiên nhiên, tạo thành những hợp kim có màu sắc rực rỡ, lôi cuốn sự quan tâm của nhiều người nhất là những nhà khoáng sản nhưng do hợp chất của chúng khá bền vững, khó hoà tan, rất khó tách riêng nên đến mãi cuối thế kỷ 18 mới được tìm ra.
Các dấu hiệu báo động thiếu crôm: nồng độ insulin tăng cao, glucoza trong nước tiểu, thèm ăn đồ ngọt (kẹo, mứt), mệt mỏi, hàm lượng triglicerid và choles – terol huyết tăng cao.
Crôm có vai trò gì?

Cơ thể người trưởng thành chứa trung bình từ 1-5mg crôm. Trong máu người bình thường tỷ lệ crôm là 10mcg/l nhưng ở những người làm việc trong môi trường có crôm thì tỷ lệ này tăng lên, nhất là trong hồng cầu có thể lên đến 40-60mcg/l máu.

Nhu cầu hàng ngày của chúng ta từ 60-65mcg song trên thực tế chúng ta chỉ đưa vào cơ thể không hơn 40mcg dù rằng có chế độ ăn uống cân bằng nhưng có thể vẫn bị thiếu hụt crôm, nhất là phụ nữ có thai hoặc cho con bú (nhu cầu 55-60mcg, có tài liệu còn đề cập cao hơn: 120-200mcg!).
Các dấu hiệu báo động thiếu crôm: nồng độ insulin tăng cao, glucoza trong nước tiểu, thèm ăn đồ ngọt (kẹo, mứt), mệt mỏi, hàm lượng triglicerid và choles – terol huyết tăng cao.

 Crôm có trong thực phẩm như gan bò, lòng đỏ trứng, men bia, tỷ lệ thấp dưới 10mcg/100g, có nhiều hơn một ít trong ngô, khoai tây, bánh mỳ đen, đậu xanh, nấm, thịt bò. Crôm được đưa vào cơ thể qua thực phẩm, hô hấp, da. Khi ăn, crôm hấp thu ở ruột non với tỷ lệ 0,4-3%. Khi tuổi cao, sự hấp thu giảm dần. Chế độ ăn uống và một số chất cũng ảnh hưởng đến sự hấp thu crôm, có chất làm hạn chế (chất phytat), có chất làm tăng (histidin, acid glutamic…). Còn qua đường hô hấp, các dẫn chất crôm tan trong nước xuyên qua màng các phế nang còn các dẫn chất không tan được tích tụ  ở mô phổi. Qua đường tiếp xúc, crôm không xuyên qua da mà tạo thành một phức hợp bền với protein ở các lớp bề mặt của da.

Crôm được bài tiết qua nước tiểu là chính (0,2-1mcg/ngày) và còn có ở trong phân vì không được hấp thu dễ dàng. Người đái tháo đường bài tiết nhiều crôm hơn.

Crôm cần cho sự chuyển hoá các glucid và lipid. Riêng đối với insulin, crôm tạo thuận lợi cho sự liên kết insulin liên kết với cơ quan thụ cảm của nó, do đó giúp cho sự đồng hoá đường glucose của các tế bào, tạo sự điều tiết tỷ lệ insulin trong máu, làm tăng tính nhạy cảm của các mô đối với insulin, bình thường và ổn định glycemic (tỷ lệ đường  trong máu). Nhưng crôm không có tác động làm giảm tỷ lệ đường trong máu mà chỉ hiệu quả khi có sự hiện diện của insulin. Khi cơ thể xuất hiện một sự đề kháng (insulin) thường đi đôi với sự thiếu hụt crôm. Trong Đại hội quốc tế về bệnh đái tháo đường lần thứ 18 (8/2003) tại Paris, nhiều báo cáo cho biết vi chất dinh dưỡng crôm (dưới dạng chronium picolisat) giảm đề kháng glucose và giảm lượng đường trong máu.

Trong một số trường hợp đái tháo đường nhận thấy thiếu crôm trầm trọng, khi bổ sung crôm có thể cải thiện tình trạng bệnh nhân đái tháo đường.

Crôm còn liên kết với sự chuyển hoá lipid, bổ sung crôm làm gia tăng hàm lượng cholesterol tốt (HDL) làm giảm cac glycerid và từ đó góp phần ngăn ngừa sự tích tụ  mỡ bên trong các mạch máu, chống xơ vữa động mạch, điều hoà và giảm huyết áp ở người  có tuổi. Một nghiên cứu thực hiện ở 8 nước châu Âu và Israel với 1.500 nam giới đã xác nhận: crôm bảo vệ tim mạch; nguy cơ nhồi máu cơ tim càng cao khi nồng độ crôm ở móng chân càng thấp. Bổ sung crôm có thể làm giảm một ít thể trọng trong béo phì do đường hấp thu sẽ được cơ thể sử dụng không chuyển hoá thành lipid và trữ trong các tế bào  mới, muốn đạt yêu cầu trên phải dùng crôm liều cao hơn.

Liều lượng crôm khuyên dùng tại Pháp là 25mcg, trong khi các nước châu Âu khác lại có thể là 2,60,100 và 200mcg. Thực phẩm chức năng có chứa khoáng vi lượng crôm, không phải là thuốc. Giáo sư Anne-Marie Roussel thuộc Đại học Joseph Fourier (Grenoble -Pháp) khuyên dùng bổ sung crôm với lượng:120mcg trong vòng 3 tháng với thời gian ngừng là một tháng", trong việc ngừa đái tháo đường. Có ý kiến những người bị cholesterol huyết cao, vữa xơ động mạch, tai biến mạch máu não, những người trên 50 tuổi nên bổ sung crôm 3 đợt/năm, mỗi đợt 3 tuần.

Tác hại của crôm

Những người làm công việc hàng ngày tiếp xúc với các chất crômat, bicromat, acid crômic dễ mắc bệnh nghề nghiệp: thừa cân. Nếu lượng crôm cao vào cơ thể qua đường tiêu hoá sẽ gây ngộ độc nặng có thể dẫn đến tử vong, còn qua đường tiếp xúc lâu dài sẽ bị loét da, viêm kết mạc, viêm mũi và ảnh hưởng đến hô hấp.

Tháng 9/2006 vừa qua, Cơ quan Giám sát chất lượng và kiểm nghiệm – kiểm dịch quốc gia Trung Quốc cho biết đã phát hiện kim loại crôm và neodymi, hai chất bị cấm sử dụng, có trong 12 loại mỹ phẩm mang thương hiệu SK II do Công ty P &G của Mỹ sản xuất. Do 2 chất này có thể làm cho da trắng và đẹp ra hoặc tăng tính đàn hồi của da một cách rõ rệt (làm trẻ lại) nên một số nhà sản xuất đã đưa những nguyên tố kim loại này vào kem dưỡng da, phấn, một số mỹ phẩm khác. Nếu liều lượng mỹ phẩm dùng ít hàng ngày (1-2g) thì tác hại không đáng kể dù dùng nhiều năm vì lượng kim loại nặng trên tích tụ không nhiều. Tuy vậy, crôm có thể gây viêm da dị ứng phát ban nên việc dùng các mỹ phẩm trên vẫn phải thận trọng, khi có triệu chứng bất thường cần ngưng sử dụng, dùng nước rửa sạch mỹ phẩm và chườm đá lên chỗ bị dị ứng, cần thiết đến thày thuốc để được xử lý kịp thời.

Nguồn Hoahocngaynay.com/SK&ĐS 18/07/2011

Bài viết cùng chủ đề

Comments

comments

 Web Analytics